TỔNG HỢP THÔNG TIN Y KHOA NGƯỜI BỆNH GÚT CẦN BIẾT

TỔNG HỢP THÔNG TIN Y KHOA NGƯỜI BỆNH GÚT CẦN BIẾT

Đăng lúc: 22/03/2017 - 17:50

Bệnh gút (hay còn gọi là thống phong) là một bệnh gây ra do rối loạn chuyển hóa chất purine trong cơ thể, dẫn đến tăng nồng độ axit uric trong máu. Bệnh gây tổn thương ở các cơ quan như khớp, sụn, xương, dưới da, thận. 

Những nội dung chính trong bài viết này:

Dịch tễ học bệnh gút

Vai trò của axit uric trong bệnh gút

Phân loại và triệu chứng theo từng thể bệnh gút

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút

Điều trị bệnh gút

Thảo dược hỗ trợ điều trị gút

Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân gút

Lưu ý đối với bệnh nhân gút

Dịch tễ học bệnh gút

Bệnh gút gặp chủ yếu ở nam giới, độ tuổi trung niên và một số có tính chất gia đình. Bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng cùng với sự cải thiện chất lượng đời sống. Theo các nghiên cứu tại Anh tỷ lệ người mắc bệnh gút đã tăng từ 0,14% năm 1975 lên 1,4% năm 2005.

Tại Việt Nam trong giai đoạn 1978-1989 tỷ lệ bệnh gút chiếm 1,5% các bệnh nhân mắc bệnh cơ xương khớp và theo một nghiên cứu về mô hình bệnh tật tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai trong 10 năm (1991-2000) thì gút chiếm tỷ lệ là 8,57%. Cũng theo một thống kê khác ở Bệnh viện Bạch Mai (1985-1994), bệnh gút chiếm tỷ lệ 2-4 % tổng số các bệnh nhân về khớp, trong đó có 97% là nam giới trên 30 tuổi và rất hiếm gặp ở nữ giới và người trẻ. Nghiên cứu dịch tễ cho Tổ chức Y tế thế giới và hội thấp khớp học châu Á- Thái Bình Dương tiến hành tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam vào năm 2000 cho thấy tỷ lệ mắc gút là 0,14% ở người trưởng thành.

Bệnh gút ngày càng gia tăng trên thế giới

Vai trò của axit uric trong bệnh gút

Axit uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình thoái giáng các nucleo – protein có chứa nhân purine. Tham gia vào quá trình hình thành axit uric trên cần sự tham gia của các enzym: nuclease, xanhthin oxydase, hypoxanthinguanin phosphoriboxin – transferase và từ 3 nguồn chính: thoái giáng các nucleo – protein từ thức ăn; thoái giáng các nucleo – protein do quá trình chết của các tế bào trong cơ thể; tổng hợp nội sinh các nucleo – protein. Axit uric được thải trừ ra ngoài cơ thể qua thận (qua nước tiểu) và đường tiêu hóa (qua phân). 

Lượng axit uric trong cơ thể tăng lên do các nguyên nhân sau: Do tăng quá trình tổng hợp nội sinh các nucleo – protein, đây là nguyên nhân chủ yếu; Tăng do quá trình hủy hoại tế bào trong cơ thể (bệnh ác tính, bệnh tan máu, dùng thuốc diệt tế bào); Giảm thải tiết axit uric qua thận (suy thận mạn, dùng thuốc lợi tiểu kéo dài, ngộ độc chì...). Ở người bình thường lượng axit uric vào khoảng 1200mg. Khi nồng độ axit uric máu tăng cao trong một khoảng thời gian dài sẽ lắng đọng ở màng hoạt dịch khớp dưới dạng các tinh thể hình kim hai đầu nhọn, gây nên phản ứng viêm cấp tính, tích đọng lại ở sụn khớp gây nên viêm khớp, hủy hoại xương, ở dưới da tạo nên các hạt tophi và ở thận gây viêm thận, sỏi, suy thận (bệnh gút mạn tính).

Axit uric máu tăng khi nồng độ axit uric vượt quá giới hạn của độ hòa tan urate trong huyết:

Nam > 7 mg/l (420 µmol/l)

Nữ > 6 mg/l (360 µmol/l)

Phân loại và triệu chứng theo từng thể bệnh gút

Phân loại bệnh gút theo nguyên nhân: bao gồm 3 loại gút nguyên phát, gút thứ phát và gút do bất thường về enzym.

- Bệnh gút nguyên phát:

Chiếm phần lớn các trường hợp của bệnh gút, nguyên nhân chưa rõ, có thể do di truyền hoặc thức ăn. Ở người bị gút nguyên phát, lượng axit uric tăng quá trình tổng hợp nội sinh các nucleo – protein có chứa nhân purinee. Bệnh có chiều hướng tăng ở thành thị và ở tầng lớp có mức sống cao. Bệnh gặp chủ yếu ở nam giới chiếm hơn 90 %, tuổi mắc bệnh từ 30 – 50, ở nữ thường mắc sau tuổi mãn kinh và hay gặp ở các đối tượng như: béo phì, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháo đường, ăn uống không kiểm soát, nhất là nghiện bia rượu và có tính chất di truyền ở một số trường hợp.

- Bệnh gút thứ phát:

Ít gặp hơn so với bệnh gút nguyên phát (chiếm khoảng 5%) bệnh chủ yếu gặp ở nam giới, được thể hiện bằng các dấu hiệu, viêm khớp cấp tính (ở chi dưới), lượng axit uric máu tăng cao, đôi khi có suy thận cấp. Tác nhân gây gút thứ phát thường là các bệnh máu (đa hồng cầu, xemi thể tủy, lách to, xơ tủy), suy thận (thận đa nang, thận nhiễm amylose, nhiễm độc chì), vẩy nến lan tỏa...

- Bệnh gút do bất thường về enzym:

Là bệnh di truyền do thiếu hụt enzym HGPRT (Hypoxanthine-guaninephosphoribosyltransferase), rất hiếm gặp, thường thấy ở bé trai trong các trường hợp mắc: Bệnh não tăng axit uric Lesch Nyhan: thiếu hoàn toàn enzym; Bệnh kết hợp bệnh não với hành vi tự cắt xẻo, gút nặng, sỏi thận; Thiếu hụt một phần enzym: gút nặng, sỏi thận, bắt đầu sớm trước 25 tuổi; Tăng hoạt tính enzym PRPP (Phosphoribosyl pyrophosphate), đây là trường hợp rất hiếm gặp.

Phân loại bệnh gút theo thể lâm sàng: bao gồm gút cấp tính và gút mạn tính.

Gút cấp tính: còn gọi là viêm khớp cấp do vi tinh thể.

Cơn gút cấp điển hình: xuất hiện tự phát hoặc khởi phát sau bữa ăn uống nhiều rượu thịt, sau phẫu thuật, stress. Biểu hiện điển hình của cơn gút cấp hay gặp là viêm khớp bàn ngón chân cái: bàn ngón chân cái sưng to, đỏ tía, nóng và đau dữ dội (như đốt lửa, như kim châm), hoặc ở một bên hoặc ở hai bên chân. Những người mắc bệnh gút ngoài các dấu hiệu sưng đau thường kèm theo sốt 38-39 độ, rối loạn thần kinh, đau đầu, rối loạn tiêu hóa, rối loạn tiểu tiện, đau nhiều về đêm, kéo dài từ vài ngày đến vài tuần, giảm dần rồi khỏi hẳn không để lại di chứng tại chỗ. Vị trí khớp bàn ngón chân cái chiếm 60-70 % trường hợp, cơn viêm cấp có thể xuất hiện tại các khớp khác ở chân như: ngón chân, cổ chân. Những đợt viêm cấp thường hay tái phát, mỗi năm vài lần, tăng dần và thời gian một đợt dài thêm, các vị trí thương tổn tăng thêm.

Cơn không điển hình: xuất hiện với nhiều biểu hiện:

- Biểu hiện tại chỗ chiếm ưu thế: dễ nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn.

- Biểu hiện tràn dịch chiếm ưu thế: thường ở khớp gối, diễn biến bán cấp, dễ nhầm với lao khớp.

- Biểu hiện toàn thân: suy nhược, trong khi hiện tượng viêm tại chỗ không đáng kể.

- Biểu hiện bằng viêm nhiều khớp cấp: dấu hiệu gợi ý là khởi phát đột ngột, viêm 3 – 4 khớp, thường ở chi dưới. Thể này thường gặp trong giai đoạn tiến triển của bệnh.

- Biểu hiện cạnh khớp cấp tính: biểu hiện cạnh khớp đơn độc hoặc kèm theo cơn gút cấp, nhất là viêm gân Achille, viêm túi thanh mạc khuỷu tay, hoặc hiếm gặp hơn có thể viêm tĩnh mạch.

Gút mạn tính: Thường sau cơn gút cấp từ một tới vài năm với biểu hiện: hạt tophi, tổn thương xương, tổn thương thận. Biểu hiện lâm sàng, sinh hóa, XQ là sự tích lũy urate ở các mô.

- Biểu hiện về hạt tophi: do tích lũy muối urate kết tủa trong mô liên kết. Các muối kết tủa này tăng dần, sau nhiều năm tạo thành các khối nổi lên dưới da. Hạt tophi có đặc điểm không đau, rắn, số lượng và kích thước thay đổi. Da phủ trên hạt thường mỏng có thể nhìn thấy màu trắng nhạt của các tinh thể urate trong hạt. Vị trí thường gặp là vành tai, mỏm khuỷu, cạnh các khớp tổn thương hoặc trong các gân. Hạt thường là nguyên nhân gây biến dạng, vô cảm và hạn chế vận động trong trường hợp tiến triển lâu năm và bệnh nặng.

- Tổn thương xương khớp: Viêm nhiều khớp nhỏ và nhỡ (ngón tay, cổ tay, cổ chân, khuỷu, gối) có đối xứng, các khớp này sưng đau, biến dạng, kéo dài liên tục với mỗi đợt nặng thêm. Nổi các u cục, thấy ở quanh các khớp, ở vành tai; kích thước từ vài mm đến vài centimet; hình tròn hoặc lồi lõm, mềm, không đau, còn có thể thấy các hạt này trên các gân, đầu ngón tay, gót chân và một số vị trí khác.

- Tổn thương thận trong gút mạn tính: chiếm từ 20 – 70% các trường hợp; do lắng đọng các tinh thể urate tại các tổ chức tại thận gây tình trạng viêm thận, sỏi thận,... nguy hiểm có thể dẫn đến suy thận và tử vong.

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút

Tiêu chuẩn đoán áp dụng tiêu chuẩn của Bennett và Wood 1968:

(a) Hoặc tìm thấy tinh thể urate trong dịch khớp hay trong các hạt tophi.

(b) Hoặc tối thiểu có hai trong các yếu tố sau đây:

- Tiền sử hoặc hiện tại có một đợt sưng đau khớp bàn ngón chân cái với các tính chất khởi phát đột ngột, sưng đau dữ dội, và khỏi hoàn toàn trong vòng hai tuần.

- Tiền sử hoặc hiện tại có tối thiểu 2 đợt sưng đau của một khớp bất kỳ với tính chất như trên.

- Có hạt tô phi.

- Tiền sử hoặc hiện tại có đáp ứng tốt với colchicin (giảm viêm, giảm đau khớp trong vòng 48h sau dùng colchicin 2 ngày liền với liều 3 mg/ngày).

Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn a hoặc 2 yếu tố của tiêu chuẩn b.

Chẩn đoán gút cấp và mạn tính:

Chẩn đoán gút cấp tính dựa vào tính chất của viêm khớp: vị trí ở chân, nhất là khớp bàn ngón chân cái; viêm khớp dữ dội và hay tái phát; lượng axit uric trong máu tăng cao; tìm thấy tinh thể hình kim ở dịch khớp và tính nhạy cảm của bệnh với thuốc colchicine (khỏi nhanh chóng).

Chẩn đoán gút mạn tính dựa vào các dấu hiệu viêm nhiều khớp, nổi các u cục, tìm thấy axit uric trong các u cục, hình ảnh hủy xương hình móc trên phim X quang. Xét nghiệm và X quang: Axit uric máu thường tăng nhưng có thể bình thường. Chọc hút chất dịch lấy từ các u cục thấy tinh thể urate trên kính hiển vi, chụp phim X quang các khớp thấy hình ảnh hủy, khuyết các đầu xương tạo nên hình móc hình bát xà mâu (do hiện tượng lắng đọng axit uric ở sụn khớp, phá hủy xương).

Điều trị bệnh gút

Nguyên tắc điều trị:

- Điều trị triệu chứng: hạ sốt, chống viêm, giảm đau.

- Điều trị nhiễm khuẩn: kháng sinh toàn thân, chăm sóc tại chỗ, điều trị ngoại khoa.

- Điều trị gút mạn tính: giảm axit uric máu, điều trị kéo dài phòng cơn gút tái phát.

Thuốc điều trị:

- Giai đoạn gút cấp tính:

+ Thuốc được coi là đặc trị với gút cấp tính là colchicin. Tuy nhiên thuốc có thể gây rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, ỉa chảy.

+ Ngoài ra còn có các thuốc khác như: diclofenac, các loại thuốc chống viêm không steroid khác…

+ Nếu có nhiễm khuẩn thì cần điều trị kháng sinh.

- Giai đoạn gút mạn tính:

+ Thuốc tăng thải axit uric qua thận làm giảm tái hấp thu axit uric ở ống thận như: probenecid,... các thuốc này có thể gây cơn đau quặn thận, do đó không dùng cho những bệnh nhân có thương tổn thận (sỏi thận, suy thận).

+ Thuốc giảm axit uric máu do ức chế quá trình tạo thành axit uric tuy nhiên, thuốc này có thể gây dị ứng, rối loạn tiêu hóa.

+ Thuốc tiêu axit uric như uricase, pegloticase theo cơ chế: enzym uricase có tác dụng chuyến axit uric thành allantoine có độ hòa tan cao và dễ dàng thải ra ngoài cơ thể.

+ Kiềm hóa nước tiểu bằng các loại nước khoáng có kiềm hoặc nước kiềm natri 1,4% khoảng 250- 500 ml mỗi ngày. Mục đích gây kiềm hóa nước tiểu tránh lắng đọng urate gây sỏi thận.

Can thiệp ngoại khoa: khi cần thiết trong những trường hợp như hạt tophi lớn, vùng nhiễm khuẩn rộng khó khống chế đơn thuần bằng kháng sinh. Phẫu thuật loại bỏ tổ chức sụn, xương khi có nhiễm khuẩn sụn khớp hay xương kèm theo.

Thảo dược hỗ trợ điều trị gút

Bệnh gút không phải là một căn bệnh của xã hội hiện đại, mà đã được biết đến từ rất lâu. Trong dân gian, từ lâu người ta đã biết sử dụng một số loại thảo dược có tác dụng làm giảm axit uric trong máu, đào thải chất độc ra ngoài cơ thể để giúp hỗ trợ điều trị bệnh gút. Một trong những thảo dược hay được sử dụng là cây trạch tả. Hiện nay, để khắc phục các nhược điểm của tây y là sử dụng các sản phẩm đông dược. Một trong số đó là sản phẩm Hoàng Thống Phong chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược an toàn và hiệu quả trong hỗ trợ điều trị gút. Trong đó, thành phần chính là trạch tả đã được nghiên cứu và chứng minh tác dụng trong lợi tiểu, tăng thải axit uric dư thừa qua đường niệu, kết hợp với các thành phần bổ thận, giảm đau khác như: hoàng bá, ba kích, nhọ nồi, hạ khô thảo…* Tác dụng có thể khác nhau tùy cơ địa người dùng.

Tác dụng của sản phẩm đã được chứng minh qua nghiên cứu trên các bệnh nhân gút tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 do PGS.TS Nguyễn Văn Quýnh – Nguyên trưởng khoa nội cán bộ làm chủ nhiệm đề tài và cho nhiều kết quả tốt. PGT.TS Nguyễn Văn Quýnh chia sẻ: “Qua theo dõi điều trị cho 27 bệnh nhân nam giới sử dụng thuốc tây phối hợp với Hoàng Thống Phong trong 7 ngày, sau đó chỉ dùng Hoàng Thống Phong đơn độc liên tục theo liệu trình từ 3-6 tháng, chúng tôi nhận thấy: Nồng độ axit uric máu giảm dần trong quá trình điều trị, sau 1 tháng axit uric đã giảm được 59,53 µmol/l, có 88,9% bệnh nhân có axit uric máu trở về giới hạn bình thường; 59,3% bệnh nhân giảm viêm khớp trong một thời gian ngắn; các cơn gút tái phát thưa dần hàng tháng, mặc dù trước khi điều trị có 5 bệnh nhân có gút tái phát trong vòng 6 tháng”. * Tác dụng có thể khác nhau tùy cơ địa của  người dùng.

Kết quả nghiên cứu còn cho biết thêm không thấy có tổn thương gan, thận, cơ quan tạo máu và các tác dụng không mong muốn nên hoàn toàn có thể dùng cho các đối tượng tăng axit uric máu đơn thuần, gút cấp tính và mạn tính. Cùng lắng nghe đánh giá của PGS.TS Nguyễn Văn Quýnh, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu trên về tác dụng của sản phẩm Hoàng Thống Phong đối với bệnh nhân gút.

Đánh giá của PGS.TS Nguyễn Văn Quýnh về tác dụng của Hoàng Thống Phong đối với bệnh gút 

Đã có rất nhiều bệnh nhân gút sử dụng Hoàng Thống Phong và cho hiệu quả điều trị tích cực. Hãy dành một vài phút để lắng nghe chia sẻ của một trong những bệnh nhân điển hình, thầy giáo Trần Đình Châu (Long Biên, Hà Nội), người đã may mắn lựa chọn được cho mình biện pháp điều trị bệnh phù hợp. 

 

Sản phẩm Hoàng Thống Phong vinh dự nhận nhiều giải thưởng:

- “Top 100 sản phẩm, dịch vụ tốt cho gia đình và trẻ em” do người tiêu dùng, độc giả Báo lao động và xã hội bình chọn nhiều năm liền.

 

- "Sản phẩm uy tín, chất lượng, an toàn vì sức khỏe người tiêu dùng" do Hội khoa học công nghệ và lương thực thực phẩm Việt Nam bình chọn.

 

Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân gút

Không nên: Kiêng tuyệt đối những thực phẩm giàu đạm có nhân purine như: hải sản, các loại thịt có màu đỏ, phủ tạng động vật, các loại trứng đang phát triển thành phôi… Giảm bớt những thực phẩm giàu đạm khác trong khẩu phần ăn như thịt lợn, thịt gà, lươn, cua, ốc, ếch. Các loại đậu như: đậu Hà Lan, đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh… Hạn chế các chất cồn như rượu, bia, cơm rượu… Hạn chế đồ uống có tính lợi tiểu như nước ngọt có ga, trà, cà phê, nước rau má, rễ cỏ tranh… Các đồ uống có tính toan như nước cam, chanh, trái cây giàu vitamin C.

Nên: Nên ăn các thực phẩm giàu chất xơ nói chung như dưa chuột, củ sắn, cà chua… Khi lên cơn đau, tạm thời chỉ dùng thức ăn có hàm lượng purine thấp như trái cây, rau, trứng, sữa… Khi nào hết đau mới thực hiện chế độ ăn có hàm lượng purine vừa như thịt bắp gà, vịt, lúa mạch… Nên uống nhiều nước (tối thiểu 2-3 lít nước mỗi ngày). Nên uống nước khoáng có độ kiềm cao giúp tăng đào thải axit uric, giảm nguy cơ sỏi thận.

Lưu ý đối với bệnh nhân gút

Trong cơn đau: Tuyệt đối để khớp nghỉ ngơi.

Ngoài cơn đau: Cần phải có chế độ lao động và sinh hoạt thích hợp với tình trạng khớp đau. Giảm cân, tránh béo phì, giữ tinh thần luôn thoải mái, tránh căng thẳng. Vận động nhẹ nhàng, vừa sức nhưng thường xuyên. Giữ ấm cơ thể, tránh để lạnh.

Để biết thêm thông tin chi tiết về bệnh gút xin vui lòng liên hệ đến số 0986.033.340 để được chuyên gia tư vấn giải đáp các thắc mắc.

Chuyên gia cơ xương khớp.


* Tác dụng có thể khác nhau tuỳ cơ địa của người dùng



QUẢNG CÁO